(028)3.825.8857

Giá trị của bảo hộ nhãn hiệu

12-11-2022

Theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (khoản 16 Điều 4), nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu phải là những dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình ảnh, hình vẽ hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.

Hay nói một cách khác, nhãn hiệu là dấu hiệu có thể nhìn thấy được và có khả năng phân biệt, dưới dạng từ ngữ, chữ cái, con số, hình vẽ, ảnh, hình dạng, màu sắc, biểu trưng, nhãn hàng hoặc sự kết hợp của một hoặc nhiều dấu hiệu này. Kiểu dáng của biểu trưng có thể được thiết kế theo kiểu dáng trừu tượng, nhân cách hóa hoặc là bản sao đơn giản của các sự vật hay hình ảnh hàng ngày. Trong một số trường hợp nhất định, có thể có được quyền đối với nhãn hiệu cho những từ ngữ hay cụm từ phổ thông. Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều nước coi dấu hiệu có màu sắc đơn nhất hoặc dấu hiệu ba chiều (hình dạng của sản phẩm hoặc bao bì), dấu hiệu có thể nghe thấy được (âm thanh), dấu hiệu có thể ngửi thấy được (mùi hoặc vị), hình ảnh chuyển động, hình ảnh ba chiều, dấu hiệu có thể nếm được hoặc bố cục của sản phẩm làm nhãn hiệu. Một số loại nhãn hiệu cụ thể được quy định gồm:

- Nhãn hiệu tập thể: nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó.

- Nhãn hiệu chứng nhận: là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu.

- Nhãn hiệu nổi tiếng: là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên lãnh thổ Việt Nam.

Một nhãn hiệu được bảo hộ thông qua thủ tục đăng ký nhãn hiệu theo quy định của pháp luật về nhãn hiệu, hoặc ở một số nước, được bảo hộ thông qua hành vi sử dụng làm nhãn hiệu trên thị trường. Thậm chí, khi nhãn hiệu được bảo hộ thông qua việc sử dụng, tốt nhất là vẫn nên đăng ký nhãn hiệu đó nhằm nhận được sự bảo hộ mạnh hơn trong trường hợp xảy ra tranh chấp liên quan đến nhãn hiệu mà cần có ý kiến của người khác hoặc của tòa án.

Để đăng ký, nhãn hiệu cần phải có tính phân biệt. Dấu hiệu để được coi là có tính phân biệt, nếu dấu hiệu đó có tính phân biệt rõ ràng, hoặc dấu hiệu đó phải có tính phân biệt thông qua việc sử dụng làm nhãn hiệu trên thị trường, nhờ đó giúp cho dấu hiệu có được ý nghĩa thứ hai của nhãn hiệu. Đăng ký nhãn hiệu lần đầu thường có hiệu lực trong 10 năm. Thời hạn hiệu lực bảo hộ nhãn hiệu có thể được gia hạn nhiều lần, với điều kiện phí gia hạn hiệu lực phải được nộp. Do đó, quyền đối với nhãn hiệu có thể kéo dài vô thời hạn, miễn là chủ sở hữu nhãn hiệu đó không từ bỏ nhãn hiệu hoặc nhãn hiệu không bị mất khả năng phân biệt trên thị trường khi trở thành tên gọi chung.

Sự hình thành của hình ảnh nhãn hiệu

Chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền đối với nhãn hiệu có tính chất lãnh thổ. Trong lãnh thổ liên quan, chủ sở hữu có độc quyền sử dụng nhãn hiệu trên hoặc liên quan đến sản phẩm, và có thể cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu, dựa trên điều khoản và điều kiện mà các bên thống nhất và nói chung là bao gồm một khoản phí được thanh toán định kỳ. Chủ sở hữu có thể thực thi độc quyền của mình đối với nhãn hiệu thông qua hệ thống luật pháp quốc gia. Theo đề nghị của chủ sở hữu, tòa án có thể ngăn cấm bất kỳ người nào sao chép hoặc gây ảnh hưởng đến danh tiếng hoặc uy tín của nhãn hiệu bằng cách bày bán hàng hóa cạnh tranh có liên quan hoặc hàng giả.

Trên thực tế, nhãn hiệu chưa đăng ký cũng có thể được bảo bộ làm nhãn hiệu. Vì vậy, việc đăng ký nhãn hiệu không phải là yếu tố quyết định để sử dụng nó làm một nhãn hiệu, đặc biệt là ở các quốc gia áp dụng hệ thống thông luật. Ngoài ra, ở các nước không áp dụng hệ thống thông luật thì pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh có thể được áp dụng để bảo hộ nhãn hiệu chưa đăng ký. Tuy nhiên, trong những trường hợp này, mức độ bảo hộ là yếu hơn rất nhiều so với nhãn hiệu đã được đăng ký. Trong các tranh chấp liên quan đến nhãn hiệu chưa đăng ký, có hai điều cần được chứng minh với các bằng chứng thuyết phục - nhưng lại không yêu cầu đối với nhãn hiệu đã được đăng ký. Thứ nhất, phải chứng minh về quyền sở hữu nhãn hiệu. Thứ hai, phải chứng minh rằng nhãn hiệu đó có chức năng làm nhãn hiệu sử dụng cho các hàng hóa hoặc dịch vụ có liên quan. Đối với nhãn hiệu đã được đăng ký, cả hai điểm trên được coi là hiển nhiên. Vì vậy, trong những tranh chấp liên quan đến nhãn hiệu đã được đăng ký, chủ sở hữu sẽ dễ dàng thành công hơn rất nhiều trong việc áp dụng một hành động bất kỳ đối với người khác có hành vi sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn cho loại hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự. Do đó, trong vụ kiện thì nhãn hiệu đã được đăng ký có nhiều vũ khí mạnh hơn so với nhãn hiệu chưa được đăng ký. Hơn nữa, theo hệ thống thông luật, nhãn hiệu chỉ có hiệu lực ở một vùng địa lý nhất định của một quốc gia mà ở đó hàng hoá được bán hoặc dịch vụ được cung cấp. Do vậy, người bất kỳ ở khu vực khác có thể sử dụng nhãn hiệu đó, miễn là hai khu vực đó không chồng lấn lên nhau. Nếu chủ sở hữu nhãn hiệu ở nước áp dụng hệ thống thông luật mở rộng nhãn hiệu của mình sang khu vực khác mà ở đó đã có một nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đang được người khác sử dụng thì người khác đó có thể ngăn cấm chủ sở hữu nhãn hiệu ở nước áp dụng hệ thống thông luật không được sử dụng nhãn hiệu trong khu vực đó, ngay cả khi chủ sở hữu nhãn hiệu ở nước áp dụng hệ thống thông luật sử dụng nhãn hiệu đó trước. Tuy nhiên, đối với nhãn hiệu đã được đăng ký thì Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu sẽ có hiệu lực trong toàn bộ lãnh thổ của một nước hoặc một khu vực được đăng ký. Nhưng cũng cần phải lưu ý rằng nhãn hiệu nổi tiếng được coi là đã được đăng ký cho tất cả các nhóm hàng hoá và dịch vụ ngay cả khi nhãn hiệu đó không đăng ký cho bất kỳ nhóm hàng hóa hoặc dịch vụ nào trong số đó trên thực tế.

Chủ đề Quản trị tài sản trí tuệ, với 57 chuyên đề, do Tiến sỹ Đào Minh Đức, nguyên Trưởng phòng Sở hữu trí tuệ, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM và các cộng sự, chia sẻ sẽ giúp bạn có thêm kiến thức về sở hữu trí tuệ trong hành trình khởi nghiệp của mình.

Chi tiết truy cập: https://phobienkienthuc.doimoisangtao.vn, đây cũng là địa chỉ giới thiệu các chủ đề phổ biến kiến thức trực tuyến và trực tiếp do Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM phối hợp với các đối tác tổ chức đồng thời là địa chỉ ghi nhận, tổng hợp các nhu cầu bổ sung kiến thức của cộng đồng về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Thông tin chi tiết liên hệ: 028.3825.8857 – truyenthong@cesti.gov.vn.